Tổng kết công tác tin học hóa trong khám chữa bệnh bảo hiểm y tế năm 2017

(09/01/2018)
Theo báo cáo về công tác tin học hóa trong khám chữa bệnh, bảo hiểm y tế năm 2017 của Vụ Bảo hiểm y tế. Tin học hóa trong khám chữa bệnh y tế trong những năm qua đã mang lại những ảnh hưởng to lớn đối với đời sống người dân, tuy nhiên cũng còn gặp không ít những khó khăn tồn tại cần phải nhanh chóng giải quyết dứt điểm.

Về kết nối, liên thông dữ liệu

Kết quả liên thông dữ liệu toàn quốc đạt 98,3%, 1 số tỉnh đạt tỷ lệ thấp, như: TP Hồ Chí Minh (89,39%), Hà Nội (90,43%), Bà Rịa-Vũng Tàu (94%); một số nơi chưa kết nối và liên thông dữ liệu là do chưa có điện, chưa được phủ sóng Internet.

Tỷ lệ hồ sơ gửi đúng ngày của toàn quốc đạt 40,2%, trong đó hầu hết các tỉnh, thành phố đều có tỷ lệ thấp dưới 20%.

Số liệu cập nhật trên cổng BHXH (27/12/2017) tỷ lệ liên thông dữ liệu với Hệ thống Thông tin giám định BHYT theo QĐ 4210 chỉ đạt 72%, trong đó một số tỉnh đạt thấp.

Đối với số liệu thống kê tại Cổng dữ liệu y tế (BYT), đến ngày 26/12/2017, chỉ79% cơ sở KCB chuyển dữ liệu lên Cổng của Bộ Y tế. Trong đó: Tuyến TW: 57/68 CSYT (83,82%); Tuyến Tỉnh: 550/679 CSYT (81%); Tuyến Huyện: 1.238/1.664 (74,40%); Tuyến Xã: 9.110/11.333 (80,38%), CSYT Bộ, ngành và y tế tư nhân chỉ đạt 42-54%.

Những khó khăn, vướng mắc được đưa ra ở nhiều lý do như phía các đơn vị như:

Thiếu văn bản Quản lý

Hệ thống văn bản QPPL quy định trong lĩnh vực KCB và CNTT: thiếu, chưa hoàn thiện, chưa đồng bộ (DMKT tương đương).

Hệ thống dữ liệu DMDC ngành y tế còn chưa đầy đủ.

Chưa có văn bản hướng dẫn về thuê dịch vụ CNTT.

Một số văn bản hướng dẫn do BHXHVN ban hành chưa thống nhất không chỉ với với Bộ Y tế, mà có cả văn bản của chính BHXHVN ban sau không thống nhất, dẫn đến khi triển khai áp dụng gây lúng túng, khó khăn cho các CSYT.

Sự hạn chế về cơ sở hạ tầng kỹ thuật CNTT

Các máy tính (PC) yếu về cấu hình, thiếu về số lượng. Tốc độ đường truyền Internet còn chậm, không ổn định. Phần mềm HIS đang sử dụng không được chỉnh sửa, cập nhật kịp thời để đáp ứng được với yêu cầu..

Nhiều dịch vụ kèm theo chưa có, như chữ ký số dùng trong y tế,…

Chưa kết nối được kết quả xét nghiệm vào phần mềm do thiếu đồng bộ của các máy xét nghiệm, thiết bị sinh ảnh; chi phí đầu tư ban đầu rất tốn kém...

Nguồn nhân lực CNTT hạn chế

Các cán bộ y tế chủ yếu được đào tạo về chuyên môn y khoa, ít được đào tạo về CNTT, đặc biệt ở tuyến y tế cơ sở nguồn nhân lực CNTT vừa yếu vừa thiếu.

Một số tồn tại, vướng mắc cụ thể qua kiểm tra:

Người đứng đầu chưa thực sự quan tâm, hiểu hết ý nghĩa của việc ứng dụng CNTT trong quản lý KCB và giám định, thanh toán chi phí KCB BHYT; chưa quan tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện trích chuyển dữ liệu điện tử đúng thời gian, đủ dữ liệu; Có nơi phần mềm HIS chưa đáp ứng được yêu cầu

Sự chưa thống nhất bộ mã danh mục dùng chung giữa Bộ Y tế và Bảo hiểm xã hội.

Một số cơ sở KCB tuyến xã hoàn toàn không có lưới điện, Internet để thực hiện cập nhật, trích chuyển dữ liệu ví dụ như Tân Trạch và Thượng Trạch, H.Bố Trạch Quảng Bình.

Đối với cơ quan BHXH
Sự bất cập trong việc tiếp nhận cơ sở dữ liệu cũng như các văn bản ban hành còn thiếu tính thực tiễn mang lại những không ít khó khăn cho CSYT thực hiện.

Nhiệm vụ trọng tâm 2018

Công tác chỉ đạo, điều hành

Tiếp tục rà soát ban hành, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật: Bộ mã DMDC, phiên bản số 5 và các phiên bản tiếp theo; Quyết định quy định về khai thác, quản lý, vận hành Hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu DMDC ngành Y tế; Quyết định và hướng dẫn thực hiện quy định về Chuẩn dữ liệu đầu ra (bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với thực tiễn); Quyết định quy định Định mức thuê dịch vụ CNTT tạm thời; Các quy định về xác thực dữ liệu và khiếu nại trong thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT điện tử.

Các quy định về tiếp nhận dữ liệu tại Cổng dữ liệu của Bộ

Xây dựng cơ chế tài chính vận hành Hệ thống thông tin quản lý khám bệnh, chữa bệnh BHYT:

Thuê Cổng tiếp nhận dữ liệu y tế ngành y tế; Thuê Hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu DMDC ngành Y tế; Định mức thuê phần mềm, giá thuê tạm thời; Định mức chi phí CNTT kết cấu trong giá dịch vụ y tế; Thuê hạ tầng Trung tâm dữ liệu ứng dụng CNTT.

Công tác đào tạo, hướng dẫn, nâng cao năng lực cán bộ: Đào tạo quản trị hạ tầng Trung tâm dữ liệu; Tiếp tục duy trì nhóm Skype hỗ trợ sử dụng, giải đáp; Xây dựng nội dung, kế hoạch tổ chức đào tạo, tập huấn, hướng dẫn cho các địa phương, các CSYT; Xây dựng Tài liệu hướng dẫn chung...

Công tác kiểm tra, giám sát

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; Tiếp nhận, xử lý ý kiến phản ánh về chất lượng dịch vụ CNTT, khó khăn trong thanh toán chi phí KCB BHYT;  Tổ chức đoàn kiểm tra, giám sát liên ngành (Y tế và BHXH);

Thực hiện kết nối, liên thông

Bảo đảm: 100% cơ sở KCB tuyến Tỉnh và tuyến TW: gửi dữ liệu điện tử thường xuyên, liên tục; 100% cơ sở KCB tuyến Huyện, tuyến Xã: gửi dữ liệu điện tử thường xuyên, liên tục, trừ không có hạ tầng.

Sở Y tế cần thực sự đóng vai trò chủ đạo

Hoàn thiện bộ máy tổ chức làm công tác CNTT. Xây dựng kế hoạch chi tiết về đào tạo. Đào tạo cho nhân viên và cho cả Lãnh đạo; Tổ chức cập nhật, mã hóa DMDC tập trung.  Thường xuyên cập nhật từ Nhóm hỗ trợ (Skype).

Đối với cơ quan BHXH

Phối hợp tốt hơn nữa với Sở Y tế, các CSYT phục vụ KNLT, giám định; Chia sẻ các thông tin kịp thời với Bộ Y tế, Sở Y tế để phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành; Phản hồi thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời những lỗi trong hồ sơ XML để CSYT hoàn chỉnh được kịp thời, chính xác, không mất nhiều thời gian, công sức.

Đối với các DN cung cấp dịch vụ CNTT

Cần xác định việc tham gia vào việc tin học hóa trong ngành y tế không chỉ là cơ hội mà còn là thách thức đề nghị các doanh nghiệp cần khẩn trương hoàn thiện, nâng cấp phần mềm, đường truyền.

Phạm Lan tổng hợp 

Tin khác